Du lịch Nghệ An

Tổng quan du lịch Nghệ An

Cẩm nang du lịch Nghệ An

du lich nghe an - Tổng quan du lịch nghệ an Nghệ An
All Stories

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2015

Về chỗ ở
Tuỳ theo điều kiện từng gia đình mà đặt KS.
Muốn ở sịn thì có thể đặt KS Xanh hoặc KS Sài gòn- KL, tuy nhiên ở đây nếu muốn tắm biển thì cũng phải như mọi khách khác phải băng qua đường để xuống biển tắm chung (Ở những KS này không có bãi biển riêng đâu nhé)
KS Hạng trung thì có thể là Thái bình Dương, Hòn ngư…
KS Hạng thường thì nhan nhản nhà nghỉ và khách sạn, giá cả phải chăng tuy nhiên vào ngày cuối tuần thì đắt hơn hẳn. 

Ăn uống cho gia đình:

Nếu không muốn đi lại nhiều thì có thể đặt ăn tại Khách sạn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của mình thì ăn uống tại khách sạn sẽ ổn định hơn, tuy nhiên sẽ phải đặt món trước, sẽ đắt hơn nhiều, không có nhiều món để lựa chọn và tóm lại không được hưởng hết không khí biển.

Nếu có điều kiện ra ngoài, nên ăn ở nhà hàng Thuý Hiếu (cách KS Hòn Ngư khoảng 100 mét) về phía tay phải nếu đứng nhìn ra biển, đồ ăn ở đây ngon, rẻ (phải công nhận là rẻ thật), nhiều món rất lạ miệng và nhiều kiểu chế biến. tuy nhiên nếu vào tối thứ 6 hoặc tối thứ 7 thì đông kinh khủng, phải đặt trước nếu không thì ra muộn chẳng có gì mà ăn. Hôm đó, thứ 7 nhà mình ra muộn nên phải đợi mãi mới có đồ ăn. (Cuối tuần khách du lịch từ HN vào nhiều cộng với khách từ trên Vinh xuống nên họ quá tải khách.)

Ăn uống cho em bé

Nhà mình có 2 em bé, bé lớn thì đã 9 tuổi nên ăn uống không phải lo nhưng còn cu con nên cũng hơi mệt về đoạn ăn uống. Tuy nhiên, đã xác định cho con đi chơi mấy ngày thì ăn uống không đủ bữa thì các mẹ cũng đừng có quá lo lắng. Hôm đầu tiên đi từ HN vào, mình phải mang sẵn 1 cặp lồng cháo ủ nóng để mang theo. Đi vào Cửa Lò đường xa thế nào bạn cũng phải dừng ăn trên đường 1 bữa. Chắc chắn sẽ không có cháo sẵn trên đường nên để chủ động các mẹ chuẩn bị luôn 1 cạp lồng cháo có ủ nhé, đến đâu chỉ cần đổ ra cho con ăn luôn mà vẫn nóng sốt.

Ở Cửa Lò mình phát hiện ra 1 cửa hàng bán cháo rất ngon, nằm ở sau lưng khách sạn Thái bình dương. Ở đó là cửa hàng chuyên bán cháo, họ nấu cháo trắng, khách hàng muốn đặt cháo nào thì học mới bắt đầu cho thịt, cá, tôm, ngao hoặc lươn. Bạn thích cho con ăn cháo đặc hay loãng thì nói với họ trước luôn nhé. Ở đó họ băm thịt luôn cho mình. Có hôm đông quá, họ không băm được mình phải vào bếp tự tay băm luôn cho con mình. Theo kinh nghiệm của mình con mình 15 tháng có thể ăn cháo tôm băm nhuyên, thịt bò, thịt lợn hoặc lươn (Nghệ An nổi tiếng về lươn đấy) hoặc cháo ngao thì chỉ nên ăn nước thôi vì thịt dai lắm. Các mẹ chú ý đừng cho con ăn ghẹ nhé. Bé nhà mình bị đi ngoài mấy bữa vì ăn ghẹ đấy. Đã có mang theo 1 cặp lồng ủ nóng các mẹ có thể làm nhiều để vào cặp lồng cho con ăn thêm bữa nữa cùng được nếu bạn ngại phải đi lại vất vả

Đi biển con rất hiếm có cơ hội ăn rau nên các mẹ có thể mang theo cam để vắt cho con uống hàng ngày. Tuy nhiên nên nếu ăn cháo hải sản thì nên cách ra khoảng 2 tiếng thì hẵng cho con uống nước cam nhé. Có thể cầm theo cả chuối, hoặc như mình thì ngày đầu tiên đến mình ra chợ Cửa Lò mua cả nải chuối về, mỗi ngày cho con ăn 1 quả, thay rau. Trộm vía đầu ra cũng ổn lắm.
Nói chung đã cho con đi chơi có thể con sẽ mấtmột số bữa ăn mà các mẹ vẫn hay làm theừơng ngày. Tuy nhiên, có thể cho con uống sữa thay cũng được. Các mẹ không nên lo lắng, ăn ít một số bữa không làm cho bé gầy ngay được đâu. Chủ yếu đi nghỉ là cho bé có cơ hội được dạn dày, tiếp xúc với bên ngoài nhiều để bé dạn dĩ hơn.

Cho bé ra biển


Bé nhà mình lần đầu ra biển nên rất sợ. Có thể có những bé dạn dĩ thích ngay thì quá tốt nhưng bé nhà mình thì cứ bám riết lấy mẹ. Cho bé đứng xuống cát bé cũng sợ nên các mẹ để ý những buổi đầu nên đi dép cho con để con đứng xuống cát không có cảm giác nhám chân. Nếu bé ôm chặt bắt bế, bạn cứ bế bé nhé, đừng vội thả bé xuống ngay bé sẽ có cảm giác sợ mãi đấy. Hãy ôm chặt lấy bé, đưa bé đi lại cho bé quen với không khí xung quanh. Hôm đầu tiên mình phải bế bé từ lúc ra biển cho đến lúc mọi người đi về, bé nhất quyết không chịu đứng xuống.


Hôm thứ hai mình đưa bé ra, dần dần cho bé đưa tay xuống hất nước, để chơi đùa. Tuy nhiên vẫn phải bế bé, chỉ để cho bé lấy tay nghịch nước thôi. Đến ngày thứ 3, cho bé ngồi trên ghế chơi cát. Dần dần đến hôm về thì bé chịu xuống nước, đã thế còn chạy lặng xăng trên cát, nghịch cát bốc cát ném, nói chung là đã không còn sợ nữa. Đến khi bé bắt đầu quen với biển thì đã lại phải đi về.
ĐI biển nghỉ ở khách sạn lúc nào cũng bật điều hoà nên các mẹ để ý trước khi đưa con đi tắm biển nhớ tắt điều hoà nhé, để khi từ biển về, người bé vẫn ướt sẽ không bị đưa ngay vào phòng điều hoà lạnh, dễ làm cho bé ốm.
Đấy là một số kinh nghiệm từ nhà mình, gửi đến các mẹ để tham khảo nhé. Chúc các mẹ và bé có kỳ nghỉ vui vẻ.

Đi lại

Nhà mình có xe riêng nên cũng chủ động. Tuy nhiên, khuyên các mẹ nên đi từ HN vào CLò sớm. Nên đi từ 5giờ sáng để chỉ phải ăn 1 bữa sáng tại dọc đường, sau đó trưa vào đến Cửa Lò, cho bé ăn uống và sau đó nghỉ ngơi luôn ở KS cho tiện. Nếu đi muộn quá sẽ mất 2 bữa ăn dọc đường và không được tiện cho bé.

Kinh nghiệm du lịch cửa lò có em bé

Unknown   at  03:34  No comments

Về chỗ ở
Tuỳ theo điều kiện từng gia đình mà đặt KS.
Muốn ở sịn thì có thể đặt KS Xanh hoặc KS Sài gòn- KL, tuy nhiên ở đây nếu muốn tắm biển thì cũng phải như mọi khách khác phải băng qua đường để xuống biển tắm chung (Ở những KS này không có bãi biển riêng đâu nhé)
KS Hạng trung thì có thể là Thái bình Dương, Hòn ngư…
KS Hạng thường thì nhan nhản nhà nghỉ và khách sạn, giá cả phải chăng tuy nhiên vào ngày cuối tuần thì đắt hơn hẳn. 

Ăn uống cho gia đình:

Nếu không muốn đi lại nhiều thì có thể đặt ăn tại Khách sạn. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của mình thì ăn uống tại khách sạn sẽ ổn định hơn, tuy nhiên sẽ phải đặt món trước, sẽ đắt hơn nhiều, không có nhiều món để lựa chọn và tóm lại không được hưởng hết không khí biển.

Nếu có điều kiện ra ngoài, nên ăn ở nhà hàng Thuý Hiếu (cách KS Hòn Ngư khoảng 100 mét) về phía tay phải nếu đứng nhìn ra biển, đồ ăn ở đây ngon, rẻ (phải công nhận là rẻ thật), nhiều món rất lạ miệng và nhiều kiểu chế biến. tuy nhiên nếu vào tối thứ 6 hoặc tối thứ 7 thì đông kinh khủng, phải đặt trước nếu không thì ra muộn chẳng có gì mà ăn. Hôm đó, thứ 7 nhà mình ra muộn nên phải đợi mãi mới có đồ ăn. (Cuối tuần khách du lịch từ HN vào nhiều cộng với khách từ trên Vinh xuống nên họ quá tải khách.)

Ăn uống cho em bé

Nhà mình có 2 em bé, bé lớn thì đã 9 tuổi nên ăn uống không phải lo nhưng còn cu con nên cũng hơi mệt về đoạn ăn uống. Tuy nhiên, đã xác định cho con đi chơi mấy ngày thì ăn uống không đủ bữa thì các mẹ cũng đừng có quá lo lắng. Hôm đầu tiên đi từ HN vào, mình phải mang sẵn 1 cặp lồng cháo ủ nóng để mang theo. Đi vào Cửa Lò đường xa thế nào bạn cũng phải dừng ăn trên đường 1 bữa. Chắc chắn sẽ không có cháo sẵn trên đường nên để chủ động các mẹ chuẩn bị luôn 1 cạp lồng cháo có ủ nhé, đến đâu chỉ cần đổ ra cho con ăn luôn mà vẫn nóng sốt.

Ở Cửa Lò mình phát hiện ra 1 cửa hàng bán cháo rất ngon, nằm ở sau lưng khách sạn Thái bình dương. Ở đó là cửa hàng chuyên bán cháo, họ nấu cháo trắng, khách hàng muốn đặt cháo nào thì học mới bắt đầu cho thịt, cá, tôm, ngao hoặc lươn. Bạn thích cho con ăn cháo đặc hay loãng thì nói với họ trước luôn nhé. Ở đó họ băm thịt luôn cho mình. Có hôm đông quá, họ không băm được mình phải vào bếp tự tay băm luôn cho con mình. Theo kinh nghiệm của mình con mình 15 tháng có thể ăn cháo tôm băm nhuyên, thịt bò, thịt lợn hoặc lươn (Nghệ An nổi tiếng về lươn đấy) hoặc cháo ngao thì chỉ nên ăn nước thôi vì thịt dai lắm. Các mẹ chú ý đừng cho con ăn ghẹ nhé. Bé nhà mình bị đi ngoài mấy bữa vì ăn ghẹ đấy. Đã có mang theo 1 cặp lồng ủ nóng các mẹ có thể làm nhiều để vào cặp lồng cho con ăn thêm bữa nữa cùng được nếu bạn ngại phải đi lại vất vả

Đi biển con rất hiếm có cơ hội ăn rau nên các mẹ có thể mang theo cam để vắt cho con uống hàng ngày. Tuy nhiên nên nếu ăn cháo hải sản thì nên cách ra khoảng 2 tiếng thì hẵng cho con uống nước cam nhé. Có thể cầm theo cả chuối, hoặc như mình thì ngày đầu tiên đến mình ra chợ Cửa Lò mua cả nải chuối về, mỗi ngày cho con ăn 1 quả, thay rau. Trộm vía đầu ra cũng ổn lắm.
Nói chung đã cho con đi chơi có thể con sẽ mấtmột số bữa ăn mà các mẹ vẫn hay làm theừơng ngày. Tuy nhiên, có thể cho con uống sữa thay cũng được. Các mẹ không nên lo lắng, ăn ít một số bữa không làm cho bé gầy ngay được đâu. Chủ yếu đi nghỉ là cho bé có cơ hội được dạn dày, tiếp xúc với bên ngoài nhiều để bé dạn dĩ hơn.

Cho bé ra biển


Bé nhà mình lần đầu ra biển nên rất sợ. Có thể có những bé dạn dĩ thích ngay thì quá tốt nhưng bé nhà mình thì cứ bám riết lấy mẹ. Cho bé đứng xuống cát bé cũng sợ nên các mẹ để ý những buổi đầu nên đi dép cho con để con đứng xuống cát không có cảm giác nhám chân. Nếu bé ôm chặt bắt bế, bạn cứ bế bé nhé, đừng vội thả bé xuống ngay bé sẽ có cảm giác sợ mãi đấy. Hãy ôm chặt lấy bé, đưa bé đi lại cho bé quen với không khí xung quanh. Hôm đầu tiên mình phải bế bé từ lúc ra biển cho đến lúc mọi người đi về, bé nhất quyết không chịu đứng xuống.


Hôm thứ hai mình đưa bé ra, dần dần cho bé đưa tay xuống hất nước, để chơi đùa. Tuy nhiên vẫn phải bế bé, chỉ để cho bé lấy tay nghịch nước thôi. Đến ngày thứ 3, cho bé ngồi trên ghế chơi cát. Dần dần đến hôm về thì bé chịu xuống nước, đã thế còn chạy lặng xăng trên cát, nghịch cát bốc cát ném, nói chung là đã không còn sợ nữa. Đến khi bé bắt đầu quen với biển thì đã lại phải đi về.
ĐI biển nghỉ ở khách sạn lúc nào cũng bật điều hoà nên các mẹ để ý trước khi đưa con đi tắm biển nhớ tắt điều hoà nhé, để khi từ biển về, người bé vẫn ướt sẽ không bị đưa ngay vào phòng điều hoà lạnh, dễ làm cho bé ốm.
Đấy là một số kinh nghiệm từ nhà mình, gửi đến các mẹ để tham khảo nhé. Chúc các mẹ và bé có kỳ nghỉ vui vẻ.

Đi lại

Nhà mình có xe riêng nên cũng chủ động. Tuy nhiên, khuyên các mẹ nên đi từ HN vào CLò sớm. Nên đi từ 5giờ sáng để chỉ phải ăn 1 bữa sáng tại dọc đường, sau đó trưa vào đến Cửa Lò, cho bé ăn uống và sau đó nghỉ ngơi luôn ở KS cho tiện. Nếu đi muộn quá sẽ mất 2 bữa ăn dọc đường và không được tiện cho bé.
Continue Reading→

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015

Nếu như ở Thanh Hóa có bánh gai, ở Quảng Ngãi có kẹo gương thì ở Hà Tĩnh có kẹo cu đơ. Một đặc sản khiến bao người con của quê hương "Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh", hay khách thập phương đã từng một lần được nếm thử thì khó có thể quên.

Kẹo Cu Đơ và bát nước chè xanh

Kẹo cu đơ lúc đầu có tên là cu hai. Sau này khi phong trào Tây học nở rộ, từ "hai" được các ông nghè nơi đây chuyển sang tiếng Pháp là "Deux" cho nó "trí thức". Từ đó, "cu deux" được đọc chệch thành cu đơ.

Công đoạn làm cu đơ nghe qua thì dễ nhưng hóa ra lại khó làm. Để có được miếng kẹo cu đơ thơm ngon thì người làm bánh phải tuân thủ những quy trình nghiêm ngặt

Kẹo ku đơ đặc sản hà tĩnh

Trước tiên, chọn mật là phải mật mía nguyên chất, thật trong vàng óng và phải lấy mật mía ở vùng đồi chứ không mua ở vùng sông. Đồ đựng mật phải là chum sành trơn bóng để chất liệu của mật không bị biến chất. Rồi lạc (đậu phộng) phải là loại hạt nhỏ, không bị lép, thối, không bị sâu mọt, không bị trầy vỏ lụa ngoài. Và cuối cùng, bánh tráng phải nhỏ hơn bánh thường, các nếp quăn đều, khi nướng không được để bánh thủng và phải chín đều.

Có đủ mật, đậu phộng, bánh tráng thượng phẩm chưa hẳn đã nấu được kẹo ngon vì kỹ thuật nấu mới là bước quan trọng. Theo quy trình thì khi mật sôi sục mới cho gừng, lạc vào khuấy đều tay, liên tục theo chiều kim đồng hồ nếu không lạc sẽ bị trầy vỏ hoặc chìm xuống đáy nồi và bị cháy, kẹo sẽ bị đắng.


Khi bắt đầu ngửi thấy mùi thơm, người ta dùng đũa nhỏ một giọt mật vào bát nước lã. Giọt mật khi rơi xuống nước tròn vo, không bẹp, không tan loãng là múc ra cho vào bánh tráng. Đây là điểm cốt lõi trong kỹ thuật nấu bởi nếu sớm quá kẹo sẽ dẻo, kết dính yếu, mật non, lạc chưa chín, nếu muộn quá mật cháy, lạc cháy, bánh sẽ bị đắng. Cuối cùng, người ta nhỏ vào một ít mạch nha cho kẹo có mùi thơm rồi úp lên một chiếc bánh tráng nữa là được.


Một miếng cu đơ thơm ngon khi ăn phải hội đủ các vị ngọt ngào của đường mía hòa quyện với chút thơm nồng cay cay của gừng tươi, pha một chút chua nhẹ của chanh cùng với bánh tráng vừng được nướng đúng độ tạo nên hỗn hợp bánh thật giòn tan và ngọt ngào.

Hiện nay ở Hà Tĩnh có rất nhiều điểm làm cu đơ nhưng nổi danh nhất vẫn là cu đơ Thư Viện của Cầu Phủ, dù giá cao hơn những điểm khác nhưng vẫn đông người mua. Bởi vậy mới có thương hiệu: "Cu đơ Cầu Phủ không nhủ cũng mua".

Mỗi lần tôi về thăm quê được nhâm nhi kẹo cu đơ với bát nước chè xanh mới thấy tuyệt vời, đúng như các cụ ngày xưa vẫn ngâm nga:
"Chè xanh thêm chút gừng cay
Cu đơ Hà Tĩnh làm say lòng người".
Bạn đang xem bản tin Kẹo Cu Đơ 

Kẹo Cu Đơ - đặc sản Hà Tĩnh

Unknown   at  00:34  No comments

Nếu như ở Thanh Hóa có bánh gai, ở Quảng Ngãi có kẹo gương thì ở Hà Tĩnh có kẹo cu đơ. Một đặc sản khiến bao người con của quê hương "Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh", hay khách thập phương đã từng một lần được nếm thử thì khó có thể quên.

Kẹo Cu Đơ và bát nước chè xanh

Kẹo cu đơ lúc đầu có tên là cu hai. Sau này khi phong trào Tây học nở rộ, từ "hai" được các ông nghè nơi đây chuyển sang tiếng Pháp là "Deux" cho nó "trí thức". Từ đó, "cu deux" được đọc chệch thành cu đơ.

Công đoạn làm cu đơ nghe qua thì dễ nhưng hóa ra lại khó làm. Để có được miếng kẹo cu đơ thơm ngon thì người làm bánh phải tuân thủ những quy trình nghiêm ngặt

Kẹo ku đơ đặc sản hà tĩnh

Trước tiên, chọn mật là phải mật mía nguyên chất, thật trong vàng óng và phải lấy mật mía ở vùng đồi chứ không mua ở vùng sông. Đồ đựng mật phải là chum sành trơn bóng để chất liệu của mật không bị biến chất. Rồi lạc (đậu phộng) phải là loại hạt nhỏ, không bị lép, thối, không bị sâu mọt, không bị trầy vỏ lụa ngoài. Và cuối cùng, bánh tráng phải nhỏ hơn bánh thường, các nếp quăn đều, khi nướng không được để bánh thủng và phải chín đều.

Có đủ mật, đậu phộng, bánh tráng thượng phẩm chưa hẳn đã nấu được kẹo ngon vì kỹ thuật nấu mới là bước quan trọng. Theo quy trình thì khi mật sôi sục mới cho gừng, lạc vào khuấy đều tay, liên tục theo chiều kim đồng hồ nếu không lạc sẽ bị trầy vỏ hoặc chìm xuống đáy nồi và bị cháy, kẹo sẽ bị đắng.


Khi bắt đầu ngửi thấy mùi thơm, người ta dùng đũa nhỏ một giọt mật vào bát nước lã. Giọt mật khi rơi xuống nước tròn vo, không bẹp, không tan loãng là múc ra cho vào bánh tráng. Đây là điểm cốt lõi trong kỹ thuật nấu bởi nếu sớm quá kẹo sẽ dẻo, kết dính yếu, mật non, lạc chưa chín, nếu muộn quá mật cháy, lạc cháy, bánh sẽ bị đắng. Cuối cùng, người ta nhỏ vào một ít mạch nha cho kẹo có mùi thơm rồi úp lên một chiếc bánh tráng nữa là được.


Một miếng cu đơ thơm ngon khi ăn phải hội đủ các vị ngọt ngào của đường mía hòa quyện với chút thơm nồng cay cay của gừng tươi, pha một chút chua nhẹ của chanh cùng với bánh tráng vừng được nướng đúng độ tạo nên hỗn hợp bánh thật giòn tan và ngọt ngào.

Hiện nay ở Hà Tĩnh có rất nhiều điểm làm cu đơ nhưng nổi danh nhất vẫn là cu đơ Thư Viện của Cầu Phủ, dù giá cao hơn những điểm khác nhưng vẫn đông người mua. Bởi vậy mới có thương hiệu: "Cu đơ Cầu Phủ không nhủ cũng mua".

Mỗi lần tôi về thăm quê được nhâm nhi kẹo cu đơ với bát nước chè xanh mới thấy tuyệt vời, đúng như các cụ ngày xưa vẫn ngâm nga:
"Chè xanh thêm chút gừng cay
Cu đơ Hà Tĩnh làm say lòng người".
Bạn đang xem bản tin Kẹo Cu Đơ 
Continue Reading→

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Khu di tích Kim Liên, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách thành phố Vinh khoảng 15 km, theo tỉnh lộ 49. Đây là khu di tích về quê hương, gia đình và thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm nhiều điểm di tích: nơi sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quê ngoại là làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An; nơi Người đã sống những năm 1901-1906 ở quê nội làng Kim Liên; khu mộ bà Hoàng Thị Loan; núi Chung và nhiều di tích khác đã gắn liền với tuổi thơ của Người.

Khu di tích Kim Liên
Khu di tích Kim Liên

Cùng với các di tích lưu niệm, tại Kim Liên còn có nhà trưng bày bổ sung giúp khách tham quan có thể tìm hiểu bối cảnh lịch sử của đất nước và quê hương vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; những nhân tố tác động sâu sắc đến tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu.



Kim Liên cũng là nơi ghi dấu về hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương. Đó là ngày 14-6-1957, sau 50 năm xa cách và từ ngày 8 đến 10-12-1961, Người về thăm lần thứ hai.


Là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, Khu di tích Kim Liên được Nhà nước chú trọng đầu tư trong nhiều năm qua. Hằng năm Khu di tích đón tiếp hàng triệu đồng bào trong cả nước và khách quốc tế đến thăm.

Khu di tích Kim Liên được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử văn hoá theo Quyết định số 54 VH / QĐ ngày 29-4-1979.

Khu di tích Kim Liên

Unknown   at  01:44  No comments

Khu di tích Kim Liên, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh cách thành phố Vinh khoảng 15 km, theo tỉnh lộ 49. Đây là khu di tích về quê hương, gia đình và thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm nhiều điểm di tích: nơi sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở quê ngoại là làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An; nơi Người đã sống những năm 1901-1906 ở quê nội làng Kim Liên; khu mộ bà Hoàng Thị Loan; núi Chung và nhiều di tích khác đã gắn liền với tuổi thơ của Người.

Khu di tích Kim Liên
Khu di tích Kim Liên

Cùng với các di tích lưu niệm, tại Kim Liên còn có nhà trưng bày bổ sung giúp khách tham quan có thể tìm hiểu bối cảnh lịch sử của đất nước và quê hương vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX; những nhân tố tác động sâu sắc đến tư tưởng yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh thời niên thiếu.



Kim Liên cũng là nơi ghi dấu về hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm quê hương. Đó là ngày 14-6-1957, sau 50 năm xa cách và từ ngày 8 đến 10-12-1961, Người về thăm lần thứ hai.


Là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của quốc gia, Khu di tích Kim Liên được Nhà nước chú trọng đầu tư trong nhiều năm qua. Hằng năm Khu di tích đón tiếp hàng triệu đồng bào trong cả nước và khách quốc tế đến thăm.

Khu di tích Kim Liên được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử văn hoá theo Quyết định số 54 VH / QĐ ngày 29-4-1979.
Continue Reading→

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Nghệ An là mảnh đất non nước hữu tình đẹp như bức tranh thủy mặc. Vẻ đẹp kỳ thú pha lẫn chút nguyên sơ luôn làm say đắm bất cứ ai đã từng đi qua và dừng chân ghé lại nơi này. Không chỉ có thế, trên mảnh đất hồn hậu, địa linh nhân kiệt đã sản sinh ra nhiều đặc sản mà ai "lỡ" nếm thử một lần cũng vương vấn mãi không thôi.
Cam xã Đoài
Cam Xã Đoài là một đặc sản của xã Nghi Diên còn có tên nôm là xã Đoài, thuộc huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Hương vị thơm ngon của cam Đoài gây nức lòng người thưởng thức đến nỗi nó đã trở thành một hình ảnh ngọt ngào của thơ ca.
“Cam xã Đoài mọng nước
Giọt vàng như mật ong
Bổ cam ngoài cửa trước
Hương bay vào nhà trong” (Phạm Tiến Duật)
cam-xa-doai-nghe-an
Ai đã ăn một lần cam Xã Đoài sẽ nhớ mãi.


Cam xã Đoài trở thành một đặc sản bởi hơn hết nó có vị đặc biệt thơm ngon, vỏ mỏng, rất nhiều nước. Khi trồng, người dân nơi đây phải lựa kỹ giống, cây giống được chọn lọc sạch, không sâu bệnh.
Nếu một lần đặt chân đến đây vào dịp tết Nguyên Đán, bạn sẽ bị choáng ngợp bởi một thứ sắc màu tươi mới, trùng điệp bởi quả, bởi lá. Hương cam bay lan tỏa ra xung quanh, nửa như mời gọi nửa muốn níu chân người lữ khách.

Cam khi mới chín có màu vàng rồi chuyển sang sẫm dần nhưng luôn giữ được vẻ tươi tắn, ngoài có lớp the mỏng, chỉ cần khẽ xây xát là đã thoát một mùi thơm ngây ngất. Khi bổ ra, cam có màu vàng óng, nước cam chảy ra nhìn sánh như những giọt mật ong óng ánh dưới ánh nắng mặt trời. Hơn thế nữa, khi thả miếng cam vào miệng, tưởng chừng như bao vị ngọt ngào của đất trời kết tinh trong đó.

Nhút Thanh Chương

Có lẽ, mít xanh là thứ quả gắn với tuổi thơ rong ruổi của rất nhiều người. Những quả mít non được hái xuống, rồi đem luộc, chấm với muối ớt, mặn chát, nghẹn trong cổ họng mà bao đứa trẻ vẫn khao khát và thích thú. Còn với người Thanh Chương xứ Nghệ, việc chế biến mít xanh thành món ăn như dưa muối lại là nghệ thuật vô cùng độc đáo. Món ăn làm từ mít xanh đó được gọi là nhút. Nhiều người còn coi nhút chính là một loại "kim chi" của xứ Nghệ này.


Nghe nói, nghề làm nhút ở Thanh Chương có từ lâu đời, là thức ăn dân dã và phổ biến của mọi gia đình. Nguyên liệu để làm nhút chỉ gồm có mít xanh và muối trắng và cách làm tương tự như nhiều món dưa muối khác ở Việt Nam.
Để làm nhút, người ta lựa những quả mít xanh, loại ương ương càng ngon rồi gọt sạch vỏ ngoài, rửa cho hết nhựa sau đó bỏ vào nong hoặc nia, dùng dao băm hoặc thái thành từng sợi. Muối được cho vào, trộn đều rồi bỏ vào cối giã sơ qua, dùng tay vò cho mềm ra. Cuối cùng mít được cho vào vại sành khoả đều trên bề mặt, đặc một chiếc vỉ lên trên, chèn đá cho nén xuống, đổ nước muối loãng vào cho ngập vỉ, đậy nắp che bụi, ủ khoảng 5-6 ngày là dùng được.

Hàng ngày trong mỗi bữa cơm, người ta lấy ra bát nhút, hương vị chua chua giòn giòn, ăn thật thích thú. Nhút ăn với cơm rất hợp, chỉ cần chút nước mắm làm nước chấm là đủ.
Lươn Vinh
Lươn vốn là loại thủy sản nước ngọt có ở hầu hết đồng ruộng trên đất nước Việt Nam. Nhưng dưới bàn tay khéo léo cùng văn hóa ẩm thực đặc trưng của những người con xứ Nghệ, các món ngon từ lươn lần lượt ra đời và dần trở thành đặc sản, tinh hoa của mảnh đất này.
Để chế biến một món ăn ngon, khâu sơ chế lươn rất quan trọng. Người chế biến loại bỏ chất nhớt bằng nhiều kinh nghiệm khác nhau như dùng tro, giấm, nước sôi hoặc dùng một số lá có độ thô như lá tre để tuốt các chất nhờn trên da lươn. Tùy theo yêu cầu của món nấu mà có thể để nguyên con, rút xương hay cắt khúc. Khâu rút xương cũng có 2 phương pháp. Hoặc cắt khứa từ cổ rồi lạng dần xuống. Hoặc đặt thân lươn lên thớt, dùng chày gỗ dần lên, rồi lộn ngược bên trong, lạng bỏ phần xương.

Cháo lươn cũng là một đặc sản khó cưỡng.
Sau khi sơ chế xong, người ta chế biến lần lượt thành những món ăn mà món nào món nấy đều hút hồn thực khách đến nỗi phải quay lại quán biết bao nhiêu lần. Chẳng hạn như lươn om (om chuối, om lá ngải cứu, om rau ngổ, om lá lốt, om nồi đất...), cháo lươn, lươn nướng, súp lươn... Lươn nướng than hoa là một trong những món ăn được đặc biệt ưa chuông. Mùi thơm của lươn nướng bay tỏa trong không trung khiến chẳng ai có thể cầm lòng được.
Súp lươn cũng là món hấp dẫn không kém. Bát súp có lượng nước trong, ngọt, thơm, những miếng thịt lươn chín còn nguyên dạng, không nhũn nát, thấm vị và dậy lên hương đặc trưng của lươn quê. Hành lá, rau răm còn nguyên sắc xanh tươi thắm được cắt nhỏ, thả bồng bềnh trên mặt nước nóng hổi điểm nhẹ những giọt ớt đỏ. Hơi bay lên kéo theo mùi hương thơm, cay, nồng khiến chưa ăn miệng đã thấy thèm.
Tương Nam Đàn
Nếu như mảnh đất Hưng Yên nổi tiếng với thứ tương Bần thơm ngon, tinh khiết thì trên mảnh đất Nam Đàn xứ Nghệ, người ta cũng có quyền tự hào vì đã làm ra một loại tương hấp dẫn không kém.
Nguyên liệu chính để làm tương đều là những thứ gần gũi, thân thiết với cuộc sống hàng ngày nhu đậu nành, nếp hoặc ngô, muối và nước. Nếu vô tình hoặc cố ý cho thêm một thứ gì vào, chum tương sẽ bị hỏng. Để có được chum tương ngon, đòi hỏi ở người làm tương sự kỳ công, tỷ mẩn.
đặc sản, Nghệ An, cháo lươn, mực nháy, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn
Nếu có dịp qua mảnh đất này, bạn hãy mang về cho mình, người thân hoặc bạn bè một chút hương vị tương giản dị này nhé!
Tương Nam Đàn lại có đủ hai loại: Mặn và ngọt. Tương mặn dùng để ăn hàng ngày, còn tương ngọt làm vào những chĩnh nhỏ chủ yếu để đãi khách và làm quà biếu. Nghe nói, tương Nam Đàn được làm bằng thứ đỗ tương xuân hè trồng trên chính đất Nam Đàn và hưởng khí, đất đai hậu thuận lợi. Có lẽ, được sản sinh từ mảnh đất phù sa màu mỡ mà đã cho ra đời thứ đậu tương hảo hạng.
Thế mới hiểu vì sao, ở xứ Nghệ, người ta hay truyền tai nhau rằng, muốn ăn nhút Thanh Chương thì trước tiên phải tìm được tương Nam Đàn. Hai thứ ấy kết hợp với nhau thì bữa cơm dù đạm bạc đến mấy vẫn ngon đến vô cùng.

Trong một chai tương Nam Đàn có tới ba tầng khác nhau nếu nhìn từ ngoài vỏ. Tầng trên cùng là đậu hạt mới chỉ được dập vỡ làm đôi. Tầng giữa là nước tương có màu Hổ Phách, còn tầng dưới cùng là mốc tương có màu vàng thẫm. Nếu có dịp qua mảnh đất này, bạn hãy mang về cho mình, người thân hoặc bạn bè một chút hương vị tương giản dị này nhé!
Bánh mướt
Thoạt nhìn, bánh mướt có vẻ giống với bánh cuốn ngoài Bắc nhưng nó lại có hương vị thơm ngon rất riêng.
Bánh mướt thường dài như ngón tay trỏ của người lớn, cuộn tròn, mềm, mịn, trắng trong. Bánh chỉ được làm bằng bột gạo tẻ - gạo được ngâm nước rất lâu sau đó được vớt ra xay nhuyễn và được ủ trong nhiều giờ liền. Bánh được làm vào những buổi sáng sớm tinh mơ. Người làm bánh phải thức dậy từ khi 2 - 3 giờ sáng để nổi nửa tráng bánh thì mới kịp bán cho khách.
Khi thưởng thức, chỉ cần chén nước mắm vắt chanh, đường vừa đủ, ớt cắt lát mỏng thế là có thể ăn đến no.
Bánh mướt nghệ an

Chính người dân nơi đây cũng chẳng rõ bánh mướt có từ khi nào, chỉ biết rằng món ăn dân dã mà ngon đến lạ thường này vẫn luôn được người ta yêu mến từ thủa bé cho đến lúc trưởng thành hay già đi.

Dẫu rằng chiếc bánh mướt theo thời gian đã được người ta cách điệu đi đôi phần như dùng máy để xay bột, dùng thịt heo, mộc nhĩ để làm thêm nhân... nhưng bánh mướt vẫn còn giữ được hồn quê dân dã đến kỳ lạ!
Bánh bèo Vinh
Nếu như bánh bèo Huế được làm từ bột gạo thì bánh bèo xứ Nghệ được làm từ bột lọc. Người ta phải nhào bột nhiều lần cho kỹ thì mới có thể có một mẻ bánh ngon. Để bánh trông đẹp hơn, người bán hàng thường nặn bánh cho giống cánh bèo.
đặc sản, Nghệ An, cháo lươn, mực nháy, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn
Những con tôm làm nhân bánh không cần to quá nhưng phải được làm sạch chân, râu rồi phi thơm cùng hành mỡ. Được biết, tôm xào càng kỹ thì càng ngấm gia vị và khi ăn thì mới thấy thơm, thấy bùi.
Đĩa bánh bèo thường phải cho thêm hành khô và một ít rau mùi thì mới hoàn chỉnh. Với những ai thích ăn cay thì có thể cho thêm tương ớt chưng. Bỏ miếng bánh bèo vào miệng sẽ thấy được vị dai dai của bột lọc, vị bùi bùi của tôm thịt, vị giòn giòn của hành khô. Món bánh bèo Vình mới chỉ xuất hiện cách đây hơn chục năm nhưng nó đã trở thành một món ăn ngon, nổi tiếng của mảnh đất này.

Mực nháy nướng Cửa Lò
Mực nháy nướng cửa lò
Món mực nháy nướng (“Mực nháy” có nơi còn gọi là mực nhảy, tên gọi này dùng để chỉ những con mực được ngư dân vừa bắt lên khỏi nước biển còn nguyên độ tươi và được đưa vào chế biến và thưởng thức ngay tại chỗ khi còn tươi nguyên) ở Cửa Lò từ lâu đã hấp dẫn du khách khi đến xứ biển. Mực ở đây tươi ngon, khi mới câu lên có màu trắng trong. Sau khi sơ chế, người ta cho những con mực tươi mới ấy lên bếp than hoa rực hồng rồi nướng. Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã từng công bố 10 đặc sản hải sản Việt Nam trong hành trình tìm kiếm, quảng bá đặc sản và ẩm thực Việt Nam lần thứ 1/2012 trong đó có mực nháy.

Hãy cứ thử tưởng tượng, sau khi đắm mình trong làn nước biển xanh mát, bao la, tận hưởng những cơn gió mặn mòi của biển rồi nằm dài trên chiếc ghế ở một quán ven đường, hít hà mùi thơm của mực nướng, từ từ nhâm nhi những miếng mực giòn giòn chấm với gia vị, thậm chí chỉ cần tương ớt thôi đã là quá tuyệt. Cuộc sống dường như lắng lại để con người tận hưởng hết những tinh hoa của biển cả, chỉ có gió và sóng cứ ồn ào, xô mãi không thôi.
Ngoài ra, ở Nghệ An còn có nhiều món ăn ngon như mọc cua bể, ghẹ hấp me, cá giò bảy món, cháo nghêu (Cửa Lò), bánh ngào... Mỗi món ăn đều tạo nên đặc trưng riêng của mảnh đất này.

Đặc sản Nghệ An hút hồn thực khách

Unknown   at  00:53  No comments

Nghệ An là mảnh đất non nước hữu tình đẹp như bức tranh thủy mặc. Vẻ đẹp kỳ thú pha lẫn chút nguyên sơ luôn làm say đắm bất cứ ai đã từng đi qua và dừng chân ghé lại nơi này. Không chỉ có thế, trên mảnh đất hồn hậu, địa linh nhân kiệt đã sản sinh ra nhiều đặc sản mà ai "lỡ" nếm thử một lần cũng vương vấn mãi không thôi.
Cam xã Đoài
Cam Xã Đoài là một đặc sản của xã Nghi Diên còn có tên nôm là xã Đoài, thuộc huyện Nghi Lộc, Nghệ An. Hương vị thơm ngon của cam Đoài gây nức lòng người thưởng thức đến nỗi nó đã trở thành một hình ảnh ngọt ngào của thơ ca.
“Cam xã Đoài mọng nước
Giọt vàng như mật ong
Bổ cam ngoài cửa trước
Hương bay vào nhà trong” (Phạm Tiến Duật)
cam-xa-doai-nghe-an
Ai đã ăn một lần cam Xã Đoài sẽ nhớ mãi.


Cam xã Đoài trở thành một đặc sản bởi hơn hết nó có vị đặc biệt thơm ngon, vỏ mỏng, rất nhiều nước. Khi trồng, người dân nơi đây phải lựa kỹ giống, cây giống được chọn lọc sạch, không sâu bệnh.
Nếu một lần đặt chân đến đây vào dịp tết Nguyên Đán, bạn sẽ bị choáng ngợp bởi một thứ sắc màu tươi mới, trùng điệp bởi quả, bởi lá. Hương cam bay lan tỏa ra xung quanh, nửa như mời gọi nửa muốn níu chân người lữ khách.

Cam khi mới chín có màu vàng rồi chuyển sang sẫm dần nhưng luôn giữ được vẻ tươi tắn, ngoài có lớp the mỏng, chỉ cần khẽ xây xát là đã thoát một mùi thơm ngây ngất. Khi bổ ra, cam có màu vàng óng, nước cam chảy ra nhìn sánh như những giọt mật ong óng ánh dưới ánh nắng mặt trời. Hơn thế nữa, khi thả miếng cam vào miệng, tưởng chừng như bao vị ngọt ngào của đất trời kết tinh trong đó.

Nhút Thanh Chương

Có lẽ, mít xanh là thứ quả gắn với tuổi thơ rong ruổi của rất nhiều người. Những quả mít non được hái xuống, rồi đem luộc, chấm với muối ớt, mặn chát, nghẹn trong cổ họng mà bao đứa trẻ vẫn khao khát và thích thú. Còn với người Thanh Chương xứ Nghệ, việc chế biến mít xanh thành món ăn như dưa muối lại là nghệ thuật vô cùng độc đáo. Món ăn làm từ mít xanh đó được gọi là nhút. Nhiều người còn coi nhút chính là một loại "kim chi" của xứ Nghệ này.


Nghe nói, nghề làm nhút ở Thanh Chương có từ lâu đời, là thức ăn dân dã và phổ biến của mọi gia đình. Nguyên liệu để làm nhút chỉ gồm có mít xanh và muối trắng và cách làm tương tự như nhiều món dưa muối khác ở Việt Nam.
Để làm nhút, người ta lựa những quả mít xanh, loại ương ương càng ngon rồi gọt sạch vỏ ngoài, rửa cho hết nhựa sau đó bỏ vào nong hoặc nia, dùng dao băm hoặc thái thành từng sợi. Muối được cho vào, trộn đều rồi bỏ vào cối giã sơ qua, dùng tay vò cho mềm ra. Cuối cùng mít được cho vào vại sành khoả đều trên bề mặt, đặc một chiếc vỉ lên trên, chèn đá cho nén xuống, đổ nước muối loãng vào cho ngập vỉ, đậy nắp che bụi, ủ khoảng 5-6 ngày là dùng được.

Hàng ngày trong mỗi bữa cơm, người ta lấy ra bát nhút, hương vị chua chua giòn giòn, ăn thật thích thú. Nhút ăn với cơm rất hợp, chỉ cần chút nước mắm làm nước chấm là đủ.
Lươn Vinh
Lươn vốn là loại thủy sản nước ngọt có ở hầu hết đồng ruộng trên đất nước Việt Nam. Nhưng dưới bàn tay khéo léo cùng văn hóa ẩm thực đặc trưng của những người con xứ Nghệ, các món ngon từ lươn lần lượt ra đời và dần trở thành đặc sản, tinh hoa của mảnh đất này.
Để chế biến một món ăn ngon, khâu sơ chế lươn rất quan trọng. Người chế biến loại bỏ chất nhớt bằng nhiều kinh nghiệm khác nhau như dùng tro, giấm, nước sôi hoặc dùng một số lá có độ thô như lá tre để tuốt các chất nhờn trên da lươn. Tùy theo yêu cầu của món nấu mà có thể để nguyên con, rút xương hay cắt khúc. Khâu rút xương cũng có 2 phương pháp. Hoặc cắt khứa từ cổ rồi lạng dần xuống. Hoặc đặt thân lươn lên thớt, dùng chày gỗ dần lên, rồi lộn ngược bên trong, lạng bỏ phần xương.

Cháo lươn cũng là một đặc sản khó cưỡng.
Sau khi sơ chế xong, người ta chế biến lần lượt thành những món ăn mà món nào món nấy đều hút hồn thực khách đến nỗi phải quay lại quán biết bao nhiêu lần. Chẳng hạn như lươn om (om chuối, om lá ngải cứu, om rau ngổ, om lá lốt, om nồi đất...), cháo lươn, lươn nướng, súp lươn... Lươn nướng than hoa là một trong những món ăn được đặc biệt ưa chuông. Mùi thơm của lươn nướng bay tỏa trong không trung khiến chẳng ai có thể cầm lòng được.
Súp lươn cũng là món hấp dẫn không kém. Bát súp có lượng nước trong, ngọt, thơm, những miếng thịt lươn chín còn nguyên dạng, không nhũn nát, thấm vị và dậy lên hương đặc trưng của lươn quê. Hành lá, rau răm còn nguyên sắc xanh tươi thắm được cắt nhỏ, thả bồng bềnh trên mặt nước nóng hổi điểm nhẹ những giọt ớt đỏ. Hơi bay lên kéo theo mùi hương thơm, cay, nồng khiến chưa ăn miệng đã thấy thèm.
Tương Nam Đàn
Nếu như mảnh đất Hưng Yên nổi tiếng với thứ tương Bần thơm ngon, tinh khiết thì trên mảnh đất Nam Đàn xứ Nghệ, người ta cũng có quyền tự hào vì đã làm ra một loại tương hấp dẫn không kém.
Nguyên liệu chính để làm tương đều là những thứ gần gũi, thân thiết với cuộc sống hàng ngày nhu đậu nành, nếp hoặc ngô, muối và nước. Nếu vô tình hoặc cố ý cho thêm một thứ gì vào, chum tương sẽ bị hỏng. Để có được chum tương ngon, đòi hỏi ở người làm tương sự kỳ công, tỷ mẩn.
đặc sản, Nghệ An, cháo lươn, mực nháy, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn
Nếu có dịp qua mảnh đất này, bạn hãy mang về cho mình, người thân hoặc bạn bè một chút hương vị tương giản dị này nhé!
Tương Nam Đàn lại có đủ hai loại: Mặn và ngọt. Tương mặn dùng để ăn hàng ngày, còn tương ngọt làm vào những chĩnh nhỏ chủ yếu để đãi khách và làm quà biếu. Nghe nói, tương Nam Đàn được làm bằng thứ đỗ tương xuân hè trồng trên chính đất Nam Đàn và hưởng khí, đất đai hậu thuận lợi. Có lẽ, được sản sinh từ mảnh đất phù sa màu mỡ mà đã cho ra đời thứ đậu tương hảo hạng.
Thế mới hiểu vì sao, ở xứ Nghệ, người ta hay truyền tai nhau rằng, muốn ăn nhút Thanh Chương thì trước tiên phải tìm được tương Nam Đàn. Hai thứ ấy kết hợp với nhau thì bữa cơm dù đạm bạc đến mấy vẫn ngon đến vô cùng.

Trong một chai tương Nam Đàn có tới ba tầng khác nhau nếu nhìn từ ngoài vỏ. Tầng trên cùng là đậu hạt mới chỉ được dập vỡ làm đôi. Tầng giữa là nước tương có màu Hổ Phách, còn tầng dưới cùng là mốc tương có màu vàng thẫm. Nếu có dịp qua mảnh đất này, bạn hãy mang về cho mình, người thân hoặc bạn bè một chút hương vị tương giản dị này nhé!
Bánh mướt
Thoạt nhìn, bánh mướt có vẻ giống với bánh cuốn ngoài Bắc nhưng nó lại có hương vị thơm ngon rất riêng.
Bánh mướt thường dài như ngón tay trỏ của người lớn, cuộn tròn, mềm, mịn, trắng trong. Bánh chỉ được làm bằng bột gạo tẻ - gạo được ngâm nước rất lâu sau đó được vớt ra xay nhuyễn và được ủ trong nhiều giờ liền. Bánh được làm vào những buổi sáng sớm tinh mơ. Người làm bánh phải thức dậy từ khi 2 - 3 giờ sáng để nổi nửa tráng bánh thì mới kịp bán cho khách.
Khi thưởng thức, chỉ cần chén nước mắm vắt chanh, đường vừa đủ, ớt cắt lát mỏng thế là có thể ăn đến no.
Bánh mướt nghệ an

Chính người dân nơi đây cũng chẳng rõ bánh mướt có từ khi nào, chỉ biết rằng món ăn dân dã mà ngon đến lạ thường này vẫn luôn được người ta yêu mến từ thủa bé cho đến lúc trưởng thành hay già đi.

Dẫu rằng chiếc bánh mướt theo thời gian đã được người ta cách điệu đi đôi phần như dùng máy để xay bột, dùng thịt heo, mộc nhĩ để làm thêm nhân... nhưng bánh mướt vẫn còn giữ được hồn quê dân dã đến kỳ lạ!
Bánh bèo Vinh
Nếu như bánh bèo Huế được làm từ bột gạo thì bánh bèo xứ Nghệ được làm từ bột lọc. Người ta phải nhào bột nhiều lần cho kỹ thì mới có thể có một mẻ bánh ngon. Để bánh trông đẹp hơn, người bán hàng thường nặn bánh cho giống cánh bèo.
đặc sản, Nghệ An, cháo lươn, mực nháy, nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn
Những con tôm làm nhân bánh không cần to quá nhưng phải được làm sạch chân, râu rồi phi thơm cùng hành mỡ. Được biết, tôm xào càng kỹ thì càng ngấm gia vị và khi ăn thì mới thấy thơm, thấy bùi.
Đĩa bánh bèo thường phải cho thêm hành khô và một ít rau mùi thì mới hoàn chỉnh. Với những ai thích ăn cay thì có thể cho thêm tương ớt chưng. Bỏ miếng bánh bèo vào miệng sẽ thấy được vị dai dai của bột lọc, vị bùi bùi của tôm thịt, vị giòn giòn của hành khô. Món bánh bèo Vình mới chỉ xuất hiện cách đây hơn chục năm nhưng nó đã trở thành một món ăn ngon, nổi tiếng của mảnh đất này.

Mực nháy nướng Cửa Lò
Mực nháy nướng cửa lò
Món mực nháy nướng (“Mực nháy” có nơi còn gọi là mực nhảy, tên gọi này dùng để chỉ những con mực được ngư dân vừa bắt lên khỏi nước biển còn nguyên độ tươi và được đưa vào chế biến và thưởng thức ngay tại chỗ khi còn tươi nguyên) ở Cửa Lò từ lâu đã hấp dẫn du khách khi đến xứ biển. Mực ở đây tươi ngon, khi mới câu lên có màu trắng trong. Sau khi sơ chế, người ta cho những con mực tươi mới ấy lên bếp than hoa rực hồng rồi nướng. Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam đã từng công bố 10 đặc sản hải sản Việt Nam trong hành trình tìm kiếm, quảng bá đặc sản và ẩm thực Việt Nam lần thứ 1/2012 trong đó có mực nháy.

Hãy cứ thử tưởng tượng, sau khi đắm mình trong làn nước biển xanh mát, bao la, tận hưởng những cơn gió mặn mòi của biển rồi nằm dài trên chiếc ghế ở một quán ven đường, hít hà mùi thơm của mực nướng, từ từ nhâm nhi những miếng mực giòn giòn chấm với gia vị, thậm chí chỉ cần tương ớt thôi đã là quá tuyệt. Cuộc sống dường như lắng lại để con người tận hưởng hết những tinh hoa của biển cả, chỉ có gió và sóng cứ ồn ào, xô mãi không thôi.
Ngoài ra, ở Nghệ An còn có nhiều món ăn ngon như mọc cua bể, ghẹ hấp me, cá giò bảy món, cháo nghêu (Cửa Lò), bánh ngào... Mỗi món ăn đều tạo nên đặc trưng riêng của mảnh đất này.
Continue Reading→

Theo nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà, sở dĩ người miền Trung thường ăn cay là để chống lại cái lạnh và mưa dầm.
Nghệ nhân ẩm thực Tôn Nữ Thị Hà (Giám đốc Nhà hàng Cung đình Tịnh Gia Viên, đồng tác giả kỷ lục châu Á năm 2012 với chiếc bánh “Phượng Hoàng Vũ”) cho biết, ớt ở miền Trung có nhiều loại: Ớt chìa vôi, ớt chỉ thiên, ớt bom, ớt chuông, ớt mọi (màu tím), ớt cao sản, ớt chuồn chuồn, ớt xanh, ớt đỏ…
Mỗi loại ớt có mùi vị cay riêng nên cần chọn lựa thích hợp từng món. Chẳng hạn ăn nem lụi, bún bò, bắt buộc phải có ớt tương.
Ớt tương được chưng cũng lắm công phu. Trước hết phải chọn loại ớt không quá cay và bắt buộc phải có màu đỏ. Ớt đỏ được luộc qua, băm nhuyễn và chao qua dầu ăn, cho thêm chút tóp mỡ, ít đường. Có người cho thêm vào hỗn hợp này chút ít cà chua chín đỏ, ít nước. Tinh tế hơn nữa, có người cho thêm một chút tương bần khiến tương ớt có vị rất khác lạ. Món tương ớt khi hoàn thành vừa không quá cay nhưng đặc sánh, dẻo thơm ở miệng.
Theo nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà, những món ngay như bún, phở… cần ăn kèm tương ớt để vị cay dễ tan. Hoặc như bún hến, nhiều người cho thêm ớt chưng hoặc ít tương ớt, khi trộn đều, món ăn và vị cay mới hòa quyện.
Vì sao nghệ an thích ăn cay

Còn khi kho cá, đặc biệt các loại cá đồng, bắt buộc phải cho ớt tươi hoặc ngon nhất là kho cùng vài quả ớt đã phơi hơi se vỏ. Càng kho lâu, miếng cá vừa có vị ngòn ngọt, mằn mặn và vị ớt thầm vào hơi cay cay nơi đầu lưỡi. Vậy nên, nói về quả ớt khi kho với cá, nhà thơ Văn Công Hùng đã từng viết: “Cái bùi, cái béo, cái ngon, cái ngọt, cái bổ, cái tươi, cái nhân nhụy, cái nồng nã của con cá như lặn hết vào quả ớt. Quả ớt căng ra, viên mãn và phủ phê, ngập cái tinh túy của nồi cá kho, nghiêng răng cắn một miếng, và một đũa cơm, thôi thì khổ sở bực bội ở đâu không biết, đến đây thì dừng lại cho cái hít hà giãn nở của khuôn mặt, của ánh mắt, của cái ánh hồng trên má và cả lấm tấm những giọt mồ hôi, vì cay, vì khoái”.

Ngoài ra, có một số món lại cần một quả ớt xanh cắn vào để vị cay nồng tan trên đầu lưỡi như: Mực xào, xanh chua. Theo kinh nghiệm của nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà, có thể kể đến một số món ăn nhiều vị cay nhất ở miền Trung như: ếch xào xả ớt, gà xào xả ớt… Trong đó, ếch xào sả ớt bao gồm các gia vị cay cua sả, ớt, tỏi, hành, tiêu. Tinh tế hơn, có thể cho thêm vào món này đôi ba quả mắc khén khiến món ăn có thêm vị cay nồng như hương hồi hoặc quế…


Lý giải về việc tại sao dải đất miền Trung thường ăn rất cay, nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà cho rằng, nói một cách đơn giản, sở dĩ người miền Trung thường ăn cay là để chống lại cái lạnh và mưa dầm như một phương thức thích nghi với cuộc sống. Tuy nhiên, về sâu xa, một nhà nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Huế đặt giả thiết rất có lý: “Theo chân chúa Nguyễn Hoàng, tổ tiên người Huế đã di cư vào đất Thuận Hóa. Sống chung với người Chăm nên họ cũng đã bắt chước một số tập tục về ẩm thực của người Chăm. Một trong những tập tục đó là “ăn ớt”. Sống trong môi trường thiên nhiên đầy “lam sơn chướng khí”, trái ớt cay đã giúp cho họ chống chọi được với thiên nhiên, chống chọi được với lạnh và chống chọi được với các thứ độc hại đầy dẫy trong môi trường mới”.

Nhiều người kể lại, có những năm mất mùa, nhiều người nghèo miền Trung còn “ăn ớt thay cơm”. Họ đem cả rá ớt ra kho mặn với muối ruốc rồi đem “trách ớt” ra ăn dần mỗi ngày. Hầu như nhà nào cũng có hũ ớt quả ngâm muối để ăn với cơm trong những ngày mưa dầm. Vậy nên, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã từng viết rất tinh tế: “Biết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡi”. Thực ra, ăn ớt còn là để đánh lừa vị giác, để quên đi sự đạm bạc khi thiếu thốn.
Ngoài những lý do giải thích trên, nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà còn cho rằng, người miền Trung có nhiều thức ăn gắn liền với mắm: Mắm nêm, mắm ruốc, mắm cá rò, mắm tôm chua, mắm tép, mắm dưa đèo, mắm cá cơm… Các loại mắm nếu không có ớt thì sẽ rất tanh. Vì vậy, ớt được cho vào các món mắm để bớt tanh và khi ăn có cảm giác thêm phần thú vị. Dần dần, văn hóa ớt trở nên rất quan trọng trong nấu nướng của người vùng này. Nhất là khi phần lớn các món ăn miền Trung thường có nêm tí mắm cho đậm đà nên ớt lại càng cần thiết. Chẳng hạn, muốn nấu canh chua, phải cho tí ớt màu vào “để bát canh có màu sắc đẹp mắt hơn, nếu không sẽ “trắng dã” như ma trôi. Ớt bột phải làm từ loại ớt phơi khô được nắng và tự giã bằng tay.
Nhận xét về việc tại sao người miền Trung rất hay ăn cay, nữ sĩ gốc Huế - Thái Thị Kim Lan (Trường ĐH Lugwig – Maximilian, Đức) cho rằng, nói người miền Trung ăn cay chỉ là một huyền thoại. Thực ra, ớt là gia vị để tô điểm thêm cho món ăn mà thôi. Tuy vậy, cái “huyền thoại” ấy vẫn khiến nhiều người ngại ngần khi nếm thử thức ăn miền Trung. Thế nhưng như một sự tự nhiên, cay đấy mà nhiều người vẫn cứ xì xụp thưởng thức để nhớ cái hương vị cay tê nơi đầu lưỡi. Để đến khi đi xa, họ lại nói với nhau: “Không ăn cay, còn đâu là đặc sản miền Trung”

Vì sao người miền Trung thích ăn cay?

Unknown   at  00:14  No comments

Theo nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà, sở dĩ người miền Trung thường ăn cay là để chống lại cái lạnh và mưa dầm.
Nghệ nhân ẩm thực Tôn Nữ Thị Hà (Giám đốc Nhà hàng Cung đình Tịnh Gia Viên, đồng tác giả kỷ lục châu Á năm 2012 với chiếc bánh “Phượng Hoàng Vũ”) cho biết, ớt ở miền Trung có nhiều loại: Ớt chìa vôi, ớt chỉ thiên, ớt bom, ớt chuông, ớt mọi (màu tím), ớt cao sản, ớt chuồn chuồn, ớt xanh, ớt đỏ…
Mỗi loại ớt có mùi vị cay riêng nên cần chọn lựa thích hợp từng món. Chẳng hạn ăn nem lụi, bún bò, bắt buộc phải có ớt tương.
Ớt tương được chưng cũng lắm công phu. Trước hết phải chọn loại ớt không quá cay và bắt buộc phải có màu đỏ. Ớt đỏ được luộc qua, băm nhuyễn và chao qua dầu ăn, cho thêm chút tóp mỡ, ít đường. Có người cho thêm vào hỗn hợp này chút ít cà chua chín đỏ, ít nước. Tinh tế hơn nữa, có người cho thêm một chút tương bần khiến tương ớt có vị rất khác lạ. Món tương ớt khi hoàn thành vừa không quá cay nhưng đặc sánh, dẻo thơm ở miệng.
Theo nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà, những món ngay như bún, phở… cần ăn kèm tương ớt để vị cay dễ tan. Hoặc như bún hến, nhiều người cho thêm ớt chưng hoặc ít tương ớt, khi trộn đều, món ăn và vị cay mới hòa quyện.
Vì sao nghệ an thích ăn cay

Còn khi kho cá, đặc biệt các loại cá đồng, bắt buộc phải cho ớt tươi hoặc ngon nhất là kho cùng vài quả ớt đã phơi hơi se vỏ. Càng kho lâu, miếng cá vừa có vị ngòn ngọt, mằn mặn và vị ớt thầm vào hơi cay cay nơi đầu lưỡi. Vậy nên, nói về quả ớt khi kho với cá, nhà thơ Văn Công Hùng đã từng viết: “Cái bùi, cái béo, cái ngon, cái ngọt, cái bổ, cái tươi, cái nhân nhụy, cái nồng nã của con cá như lặn hết vào quả ớt. Quả ớt căng ra, viên mãn và phủ phê, ngập cái tinh túy của nồi cá kho, nghiêng răng cắn một miếng, và một đũa cơm, thôi thì khổ sở bực bội ở đâu không biết, đến đây thì dừng lại cho cái hít hà giãn nở của khuôn mặt, của ánh mắt, của cái ánh hồng trên má và cả lấm tấm những giọt mồ hôi, vì cay, vì khoái”.

Ngoài ra, có một số món lại cần một quả ớt xanh cắn vào để vị cay nồng tan trên đầu lưỡi như: Mực xào, xanh chua. Theo kinh nghiệm của nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà, có thể kể đến một số món ăn nhiều vị cay nhất ở miền Trung như: ếch xào xả ớt, gà xào xả ớt… Trong đó, ếch xào sả ớt bao gồm các gia vị cay cua sả, ớt, tỏi, hành, tiêu. Tinh tế hơn, có thể cho thêm vào món này đôi ba quả mắc khén khiến món ăn có thêm vị cay nồng như hương hồi hoặc quế…


Lý giải về việc tại sao dải đất miền Trung thường ăn rất cay, nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà cho rằng, nói một cách đơn giản, sở dĩ người miền Trung thường ăn cay là để chống lại cái lạnh và mưa dầm như một phương thức thích nghi với cuộc sống. Tuy nhiên, về sâu xa, một nhà nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Huế đặt giả thiết rất có lý: “Theo chân chúa Nguyễn Hoàng, tổ tiên người Huế đã di cư vào đất Thuận Hóa. Sống chung với người Chăm nên họ cũng đã bắt chước một số tập tục về ẩm thực của người Chăm. Một trong những tập tục đó là “ăn ớt”. Sống trong môi trường thiên nhiên đầy “lam sơn chướng khí”, trái ớt cay đã giúp cho họ chống chọi được với thiên nhiên, chống chọi được với lạnh và chống chọi được với các thứ độc hại đầy dẫy trong môi trường mới”.

Nhiều người kể lại, có những năm mất mùa, nhiều người nghèo miền Trung còn “ăn ớt thay cơm”. Họ đem cả rá ớt ra kho mặn với muối ruốc rồi đem “trách ớt” ra ăn dần mỗi ngày. Hầu như nhà nào cũng có hũ ớt quả ngâm muối để ăn với cơm trong những ngày mưa dầm. Vậy nên, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã từng viết rất tinh tế: “Biết ăn ớt để đánh lừa cái lưỡi”. Thực ra, ăn ớt còn là để đánh lừa vị giác, để quên đi sự đạm bạc khi thiếu thốn.
Ngoài những lý do giải thích trên, nghệ nhân Tôn Nữ Thị Hà còn cho rằng, người miền Trung có nhiều thức ăn gắn liền với mắm: Mắm nêm, mắm ruốc, mắm cá rò, mắm tôm chua, mắm tép, mắm dưa đèo, mắm cá cơm… Các loại mắm nếu không có ớt thì sẽ rất tanh. Vì vậy, ớt được cho vào các món mắm để bớt tanh và khi ăn có cảm giác thêm phần thú vị. Dần dần, văn hóa ớt trở nên rất quan trọng trong nấu nướng của người vùng này. Nhất là khi phần lớn các món ăn miền Trung thường có nêm tí mắm cho đậm đà nên ớt lại càng cần thiết. Chẳng hạn, muốn nấu canh chua, phải cho tí ớt màu vào “để bát canh có màu sắc đẹp mắt hơn, nếu không sẽ “trắng dã” như ma trôi. Ớt bột phải làm từ loại ớt phơi khô được nắng và tự giã bằng tay.
Nhận xét về việc tại sao người miền Trung rất hay ăn cay, nữ sĩ gốc Huế - Thái Thị Kim Lan (Trường ĐH Lugwig – Maximilian, Đức) cho rằng, nói người miền Trung ăn cay chỉ là một huyền thoại. Thực ra, ớt là gia vị để tô điểm thêm cho món ăn mà thôi. Tuy vậy, cái “huyền thoại” ấy vẫn khiến nhiều người ngại ngần khi nếm thử thức ăn miền Trung. Thế nhưng như một sự tự nhiên, cay đấy mà nhiều người vẫn cứ xì xụp thưởng thức để nhớ cái hương vị cay tê nơi đầu lưỡi. Để đến khi đi xa, họ lại nói với nhau: “Không ăn cay, còn đâu là đặc sản miền Trung”
Continue Reading→

Thứ Hai, 29 tháng 6, 2015

Cùng về Yên Thành Nghệ An để thưởng thức món thịt chuột có một không hai 
Thịt chuột không chỉ là một món ăn bình thường nữa mà ngày nay nó là một món ăn đặc sản đã được nhiều người công nhận. Thịt chuột là một món ăn ngon mùi vị hấp dẫn. Là một món ăn khoái khẩu cho các cuộc nhậu
Cùng về Yên Thành Nghệ An để thưởng thức món thịt chuột có một không hai 

Đi dọc theo những con đường làng của 1 vùng quê được xem là vựa lúa của tỉnh Nghệ An_huyện Yên Thành, thỉnh thoảng người  ta sẽ thấy một số nhóm bọn trẻ con đang hì hục đào xới trên những bờ ruộng xanh mơn mởn.Quả thật vị khách nào mới ghé thăm vùng quê này lần đầu thì chắc phải tò mò lắm nhỉ, nhưng với người dân nơi đây thì không còn lạ lẫm gì nữa. Bọn trẻ đang đào tìm chuột đồng đấy. Vâng, món thịt chuột được xem là đặc sản của quê lúa Yên Thành chúng tôi mà.

Các bạn ạ, thịt chuột được xem là món ăn dân giã, đầy hấp dẫn, được xếp vào đặc sản thịt miệt đồng. Hằng năm, từ tháng 10 đến lúc tháng 3 âm lịch sang năm là mùa chuột đồng kiếm ăn nên con nào cũng múp míp, tròn trĩnh. Đây chính là lúc người dân cùng nhau đi săn chuôt đồng đấy.Chạng vạng tối cũng là thời điểm mọi người chuẩn bị đi “săn”. Thường thì họ dắt theo một con chó to cùng cơ man nào là: cuốc, xẻng,gậy,..  “Đi săn chuột là phải đi chân đất. Cái giống chuột này nó tinh lắm. Tiếng dép loẹt quẹt là nó chạy ngay”.Câu nói đó là kinh nghiệm của một trong những chuyên gia đi “săn” chuột làng tôi đó.


Người ta bảo có 36 món thịt chuột hấp dẫn cơ, nhưng với vùng quê Yên Thành chúng tôi thì món chuột nướng là phổ biến và thơm ngon nhất.Sau khi làm sạch chuột, người ta phủ rơm lên, cời than và cắt đầu, lột da, bóc bỏ bộ lòng (chỉ chừa gan). Móc bỏ bộ phận bài tiết và hạch ở bẹn của hai đùi sau và rửa sạch (phải làm thật kỹ, nếu không thịt sẽ khai và hôi mùi chuột). Dùng tre hoặc trúc chẻ thành que làm gắp nướng. Dưới sức nóng của than củi, thớ thịt chuột sẽ tươm mỡ, cháy xèo xèo. Tiếp đó mang băm nhuyễn xoài xanh trộn với nước mắm nhĩ loại ngon, thêm một chút ớt đỏ thật cay để làm nước chấm.
thit-chuot
Thịt chuột được làm sạch
thit-chuot
Sau đó nó được đem đi thui vàng bằng rơm
Dưới đây là một số món ăn ngon từ thịt chuột
thit-chuot
Thịt chuột tẩm gia vị nướng
thit-chuot
Thịt chuột xào hành
thit-chuot
Thịt chuột nấu giả cầy

Cái danh xưng “Yên Thành thịt chuột” ban đầu nghe khó lọt tai, nhưng về sau càng thấy tự hào vì quê mình có món ngon nổi tiếng, được lên ti vi, khắp các báo lớn, báo nhỏ đưa tin, viết bài rầm rộ. Và giờ thì “Yên Thành thịt chuột” đã thành câu cửa miệng của người dân xứ Nghệ khi nhắc đến huyện lúa. Nói “Yên Thành thịt chuột” là nói chung cho cả huyện, chứ trên thực tế, nhiều xã chỉ là hưởng xái cái tên gọi ấy mà thôi. Bắt chuột có nghề phải về những vùng quê như Đức Thành, Mã Thành, Phú Thành… Như làng Thọ Bằng – Đức Thành, săn chuột đã trở thành truyền thống của nhiều gia đình. Nói như vậy để thấy rằng, có được món ngon cũng phải có nghề, có mẹo chứ không phải ai cũng làm được. Có người chỉ đi săn chuột một buổi đã bắt được năm, bảy chục con, có người rong ruổi cả ngày chỉ bắt được vài ba con lèo tèo.

Thịt chuột Yên Thành - Đặc sản yên thành

Unknown   at  06:23  No comments

Cùng về Yên Thành Nghệ An để thưởng thức món thịt chuột có một không hai 
Thịt chuột không chỉ là một món ăn bình thường nữa mà ngày nay nó là một món ăn đặc sản đã được nhiều người công nhận. Thịt chuột là một món ăn ngon mùi vị hấp dẫn. Là một món ăn khoái khẩu cho các cuộc nhậu
Cùng về Yên Thành Nghệ An để thưởng thức món thịt chuột có một không hai 

Đi dọc theo những con đường làng của 1 vùng quê được xem là vựa lúa của tỉnh Nghệ An_huyện Yên Thành, thỉnh thoảng người  ta sẽ thấy một số nhóm bọn trẻ con đang hì hục đào xới trên những bờ ruộng xanh mơn mởn.Quả thật vị khách nào mới ghé thăm vùng quê này lần đầu thì chắc phải tò mò lắm nhỉ, nhưng với người dân nơi đây thì không còn lạ lẫm gì nữa. Bọn trẻ đang đào tìm chuột đồng đấy. Vâng, món thịt chuột được xem là đặc sản của quê lúa Yên Thành chúng tôi mà.

Các bạn ạ, thịt chuột được xem là món ăn dân giã, đầy hấp dẫn, được xếp vào đặc sản thịt miệt đồng. Hằng năm, từ tháng 10 đến lúc tháng 3 âm lịch sang năm là mùa chuột đồng kiếm ăn nên con nào cũng múp míp, tròn trĩnh. Đây chính là lúc người dân cùng nhau đi săn chuôt đồng đấy.Chạng vạng tối cũng là thời điểm mọi người chuẩn bị đi “săn”. Thường thì họ dắt theo một con chó to cùng cơ man nào là: cuốc, xẻng,gậy,..  “Đi săn chuột là phải đi chân đất. Cái giống chuột này nó tinh lắm. Tiếng dép loẹt quẹt là nó chạy ngay”.Câu nói đó là kinh nghiệm của một trong những chuyên gia đi “săn” chuột làng tôi đó.


Người ta bảo có 36 món thịt chuột hấp dẫn cơ, nhưng với vùng quê Yên Thành chúng tôi thì món chuột nướng là phổ biến và thơm ngon nhất.Sau khi làm sạch chuột, người ta phủ rơm lên, cời than và cắt đầu, lột da, bóc bỏ bộ lòng (chỉ chừa gan). Móc bỏ bộ phận bài tiết và hạch ở bẹn của hai đùi sau và rửa sạch (phải làm thật kỹ, nếu không thịt sẽ khai và hôi mùi chuột). Dùng tre hoặc trúc chẻ thành que làm gắp nướng. Dưới sức nóng của than củi, thớ thịt chuột sẽ tươm mỡ, cháy xèo xèo. Tiếp đó mang băm nhuyễn xoài xanh trộn với nước mắm nhĩ loại ngon, thêm một chút ớt đỏ thật cay để làm nước chấm.
thit-chuot
Thịt chuột được làm sạch
thit-chuot
Sau đó nó được đem đi thui vàng bằng rơm
Dưới đây là một số món ăn ngon từ thịt chuột
thit-chuot
Thịt chuột tẩm gia vị nướng
thit-chuot
Thịt chuột xào hành
thit-chuot
Thịt chuột nấu giả cầy

Cái danh xưng “Yên Thành thịt chuột” ban đầu nghe khó lọt tai, nhưng về sau càng thấy tự hào vì quê mình có món ngon nổi tiếng, được lên ti vi, khắp các báo lớn, báo nhỏ đưa tin, viết bài rầm rộ. Và giờ thì “Yên Thành thịt chuột” đã thành câu cửa miệng của người dân xứ Nghệ khi nhắc đến huyện lúa. Nói “Yên Thành thịt chuột” là nói chung cho cả huyện, chứ trên thực tế, nhiều xã chỉ là hưởng xái cái tên gọi ấy mà thôi. Bắt chuột có nghề phải về những vùng quê như Đức Thành, Mã Thành, Phú Thành… Như làng Thọ Bằng – Đức Thành, săn chuột đã trở thành truyền thống của nhiều gia đình. Nói như vậy để thấy rằng, có được món ngon cũng phải có nghề, có mẹo chứ không phải ai cũng làm được. Có người chỉ đi săn chuột một buổi đã bắt được năm, bảy chục con, có người rong ruổi cả ngày chỉ bắt được vài ba con lèo tèo.
Continue Reading→

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2015

Cà pháo từ xưa vốn được coi là một món ăn chính của người nông dân xứ Nghệ. Cà pháo ngon nhất, đúng hương vị nhất phải kể đến cà pháo của đất Nghi Lộc, Nghệ An. Khác với loại cà pháo muối xổi ở thành phố, cà xứ Nghệ thường được muối trong vại lớn trước đó dùng làm nước mắm, cà muối hàng tháng sau mới lấy ra ăn.Từ trước tới nay có nhiều người cho rằng cà là một món ăn "chủ lực" của nông dân lao động. Nếu bà con có dịp về xứ Nghệ vào dạo cuối xuân, đầu hè, nhìn vào bữa cơm gia đình nào cũng thấy món cà pháo
Cà muối là món ăn dân gian quen thuộc của người đô thị mà cũng không thể thiếu mặt trên mâm cơm mọi miền quê xứ Bắc và cả miền Trung. Có thể nói đâu đâu cũng có cà muối dùng trong bữa ăn thanh đạm hàng ngày thậm chí cả trong tiệc tùng, bữa án đặc sản cao cấp vì thiếu đĩa cà muối thì dù có đủ sơn hào hải vị đi chăng nữa, người ăn vẫn có cảm giác chưa ngon.

Món cà muối xứ nghệ 

Món cà muối ăn vừa ngon vừa rẻ lại dễ làm, nhưng Nghệ An có cách muối cà riêng biệt khác lạ bởi vậy mà cà được người dân ở đây muối ăn quanh năm. Cà có nhiều loại nhưng ngon nhất là giống cà cốm chỉ to bằng viên bi muối ăn giòn tan, vị chua đậm. Cũng có giống cà quả nhỉnh hơn một chút hình bầu dục, vỏ hơi dày nhưng cắn nổ đốp như pháo nên mới được gọi là cà pháo. Cả hai loại cà này ở Nghệ An nơi nào cũng sẵn nhưng phải là ở vùng Nghi Lộc mới là nơi có nhiều người trồng và cũng ngon hơn nơi khác.


Vào mùa hè, chỉ cần có bát nước rau muống luộc hay bát canh rau tập tàng và một đĩa cà muối chấm mắm tôm chanh là đủ cho một bữa ăn ngon. Nhìn những quả cà mới vớt khỏi vại còn trắng phau, chen chúc trong đĩa ai cũng thấy thèm và muốn được ăn. Hơn nữa người ăn sẽ thầm kín có cảm giác khoái chí khỉ bỏ quả cà tròn trĩnh vào miệng rồi cắn nổ đánh đốp nghe giòn tan, vừa nhai vừa thấy thấm vị mằn mặn chua chua, phảng phất mùi thơm của tỏi làm cho ngon miệng suốt cả bữa ăn. Cà không chỉ được ăn vào mùa hè mà còn được ăn cả vào mùa đông thường là muối nén chứ không phải muối xổi nữa vì mùa cà đã hết. Cà ăn với cơm nguội hay với khoai lang luộc đã là ngon. Những củ khoai vừa chín tới được vớt trong nồi ra còn nóng bỏng vỏ nứt tung, ruột trắng đục ăn kèm với cà có cái ngon kỳ lạ giữa mềm và cứng lẫn lộn. Phải nói rằng rất thú vị là đằng khác, không những chỉ có vị mặn của cà, mùi thơm của tỏi mà còn lẩu cà vị ngọt của khoai nữa. Người khó tính không mấy khi ăn khoai nhưng khi được ăn với cà thì họ không chịu bỏ qua. Còn điều lạ nữa là vùng này người ta còn ăn cà với vừng rang chắc phải là ngon lắm, khẩu vị địa phương mà!
Chưa hết, trong các bữa ăn, cà đã được thay thế cho các đồ nhắm khác như mực khô cua bể nên cà đã trở thành người bạn đồng hành của rượu gạo, rượu nếp trong mỗi bữa ăn đồng quê.
Ngoài ra cà muối còn được tái chế thành món ăn khác như cà xào. Quả cà được cắt làm đôi, phi hành mỡ cho thơm, bỏ cà vào đảo đều, cho thêm một ít ớt tươi mộ nhúm lá chanh thái sợi. Món ăn này cũng được địa phương ưa chuộng.
Thi sĩ Tản Đà, xưa đã có thời kỳ sinh sống ở miền Trung, khi giã từ chốn cũ ông bồn chồn chẳng thiết nhớ ai mà chỉ nhớ độc có món cà muối nên đã để lại vần thơ:
"Hà tươi cửa bể Tua Ran(1)
Nhớ canh rau muống - nhớ cà dầm tương

Long Xuyên chén mắm, Nghệ An đĩa cà”
Nhà thơ Huy Cận cũng có đoạn gửi người bạn xứ Nghệ rằng: "Ai ơi cà xứ Nghệ, càng mặn lại càng giòn".
Cà muối tuy là món ăn ngon nhưng cũng dễ làm, vì vậy mà nó được lưu truyền từ đời này sang đời khác và ai cũng biết muối cà. Tuy nhiên không phải ai muối cũng ngon mà còn phụ thuộc vào từng cách muối. Cách muối cà của người dân xứ Nghệ không giống với cách muối cà ở những nơi khác. Đó là khi cà đã được hái, họ chọn ra những quả nhỏ trắng đem phơi cho héo. Khi quả cà đã rút bớt nước trở thành mềm, rửa sạch để ráo rắc thêm ít muối xóc lên cho thật đều. Sau đó trút tất cả vào vại sành, dội nước sôi để nguội còn hơi ẩm lên trên gần ngập, giã thêm ít tỏi rắc vào. Cuối cùng lấy một cái dĩa hay vỉ nan tròn úp lên trên lấy một hòn đá nặng đè lên sao cho cà không nổi khỏi mặt nước. Cứ để nguyên như vậy trong một tuần là đã có thể lấy dần ra ăn. Càng để lâu càng ngon nhưng để quá cà bị chua gắt không ăn được nên người ta đã cho thật nhiều muối cà sẽ mặn chát quả bẹp dí không còn tròn trĩnh như cà muối xổi nữa bởi đã thành cà nén như kiểu cà bát quả rất to và cách ăn cũng thay đổi tuy cũng họ nhà cà với nhau. Cà bát chỉ được muối nén ăn quanh năm trở thành kho thúc ăn dã chiến ăn dài ngày, dự trữ phòng mưa bão khan hiếm rau xanh. Hầu hết trong các gia đình nông dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ ngược lên các làng trung du kế cận giáp ranh miền xuôi, nhà nào cũng có một chum tương cũng với vại cà. Cà bát ngâm tương ăn cũng thấy ngon như là bữa cỗ. Chẳng thế mà có người nghiện cà. Xưa có một giai thoại khá lý thú về món cà muối. Thực vậy, cà muối không chỉ là một món ăn dân dã riêng người mình ưa thích mà cả Tây cũng phải mê. Người ta kể lại thời Pháp thuộc có một tên quan thực dân chắc là Rôbe Rôbớc gì đó nhưng dân mình gọi luôn nó là thằng Bớp. Hắn giữ chức Đồn trưởng đồn Can Lộc lấy vợ “An Nam” và chỉ thích ăn cơm ta, bỏ hắn cơm Tây. Vợ hắn đã luyện cho hắn tập ăn cả cà muối mỗi bữa đến nồi mắc nghiện cà Nghệ. Bữa nào không có cà muối là hắn mè nheo nhăn nhó bỏ không ăn cơm. Một lần đi hành hạt hắn sai lính vác bát vào làng xin cà. Có người thấy Tây biết ăn cà thì lấy làm lạ và có vẻ thương hại rồi mách bảo hắn thôi đừng ăn nữa vì vại cà nhà quê thường có dòi ăn độc. Hắn không nghe thản nhiên đáp lại: “Biết rồi không sao!”, chặc lưỡi nói thêm. “Có dòi là chuyện thường có gì lạ đâu?”. Mọi người cười ồ bỗng liên tưởng đến loại "Tây rau muống” không đủ tiền ăn thịt cá nên mới đòi ăn cà tới mức "nghiện" nặng như vậy.

Thế mới biết món ăn truyền thống dân tộc của người mình quả là có giá trị, nó lôi cuốn và thuyết phục mạnh mẽ bất cứ lớp người nào kể cả người nước ngoài bởi cà muối thuộc hàng khẩu vị siêu cấp từ lâu đời rồi. Những ai xa quê, đôi khi nhớ da diết một bữa canh cua đồng ăn với cà muối. Ấy là lúc tình yêu xứ Nghệ trỗi dậy khiến ta xao xuyến bồn chồn.

Cà muối (cà pháo) xứ Nghệ - nét đặc trưng của ẩm thực Nghệ An

Unknown   at  20:08  No comments

Cà pháo từ xưa vốn được coi là một món ăn chính của người nông dân xứ Nghệ. Cà pháo ngon nhất, đúng hương vị nhất phải kể đến cà pháo của đất Nghi Lộc, Nghệ An. Khác với loại cà pháo muối xổi ở thành phố, cà xứ Nghệ thường được muối trong vại lớn trước đó dùng làm nước mắm, cà muối hàng tháng sau mới lấy ra ăn.Từ trước tới nay có nhiều người cho rằng cà là một món ăn "chủ lực" của nông dân lao động. Nếu bà con có dịp về xứ Nghệ vào dạo cuối xuân, đầu hè, nhìn vào bữa cơm gia đình nào cũng thấy món cà pháo
Cà muối là món ăn dân gian quen thuộc của người đô thị mà cũng không thể thiếu mặt trên mâm cơm mọi miền quê xứ Bắc và cả miền Trung. Có thể nói đâu đâu cũng có cà muối dùng trong bữa ăn thanh đạm hàng ngày thậm chí cả trong tiệc tùng, bữa án đặc sản cao cấp vì thiếu đĩa cà muối thì dù có đủ sơn hào hải vị đi chăng nữa, người ăn vẫn có cảm giác chưa ngon.

Món cà muối xứ nghệ 

Món cà muối ăn vừa ngon vừa rẻ lại dễ làm, nhưng Nghệ An có cách muối cà riêng biệt khác lạ bởi vậy mà cà được người dân ở đây muối ăn quanh năm. Cà có nhiều loại nhưng ngon nhất là giống cà cốm chỉ to bằng viên bi muối ăn giòn tan, vị chua đậm. Cũng có giống cà quả nhỉnh hơn một chút hình bầu dục, vỏ hơi dày nhưng cắn nổ đốp như pháo nên mới được gọi là cà pháo. Cả hai loại cà này ở Nghệ An nơi nào cũng sẵn nhưng phải là ở vùng Nghi Lộc mới là nơi có nhiều người trồng và cũng ngon hơn nơi khác.


Vào mùa hè, chỉ cần có bát nước rau muống luộc hay bát canh rau tập tàng và một đĩa cà muối chấm mắm tôm chanh là đủ cho một bữa ăn ngon. Nhìn những quả cà mới vớt khỏi vại còn trắng phau, chen chúc trong đĩa ai cũng thấy thèm và muốn được ăn. Hơn nữa người ăn sẽ thầm kín có cảm giác khoái chí khỉ bỏ quả cà tròn trĩnh vào miệng rồi cắn nổ đánh đốp nghe giòn tan, vừa nhai vừa thấy thấm vị mằn mặn chua chua, phảng phất mùi thơm của tỏi làm cho ngon miệng suốt cả bữa ăn. Cà không chỉ được ăn vào mùa hè mà còn được ăn cả vào mùa đông thường là muối nén chứ không phải muối xổi nữa vì mùa cà đã hết. Cà ăn với cơm nguội hay với khoai lang luộc đã là ngon. Những củ khoai vừa chín tới được vớt trong nồi ra còn nóng bỏng vỏ nứt tung, ruột trắng đục ăn kèm với cà có cái ngon kỳ lạ giữa mềm và cứng lẫn lộn. Phải nói rằng rất thú vị là đằng khác, không những chỉ có vị mặn của cà, mùi thơm của tỏi mà còn lẩu cà vị ngọt của khoai nữa. Người khó tính không mấy khi ăn khoai nhưng khi được ăn với cà thì họ không chịu bỏ qua. Còn điều lạ nữa là vùng này người ta còn ăn cà với vừng rang chắc phải là ngon lắm, khẩu vị địa phương mà!
Chưa hết, trong các bữa ăn, cà đã được thay thế cho các đồ nhắm khác như mực khô cua bể nên cà đã trở thành người bạn đồng hành của rượu gạo, rượu nếp trong mỗi bữa ăn đồng quê.
Ngoài ra cà muối còn được tái chế thành món ăn khác như cà xào. Quả cà được cắt làm đôi, phi hành mỡ cho thơm, bỏ cà vào đảo đều, cho thêm một ít ớt tươi mộ nhúm lá chanh thái sợi. Món ăn này cũng được địa phương ưa chuộng.
Thi sĩ Tản Đà, xưa đã có thời kỳ sinh sống ở miền Trung, khi giã từ chốn cũ ông bồn chồn chẳng thiết nhớ ai mà chỉ nhớ độc có món cà muối nên đã để lại vần thơ:
"Hà tươi cửa bể Tua Ran(1)
Nhớ canh rau muống - nhớ cà dầm tương

Long Xuyên chén mắm, Nghệ An đĩa cà”
Nhà thơ Huy Cận cũng có đoạn gửi người bạn xứ Nghệ rằng: "Ai ơi cà xứ Nghệ, càng mặn lại càng giòn".
Cà muối tuy là món ăn ngon nhưng cũng dễ làm, vì vậy mà nó được lưu truyền từ đời này sang đời khác và ai cũng biết muối cà. Tuy nhiên không phải ai muối cũng ngon mà còn phụ thuộc vào từng cách muối. Cách muối cà của người dân xứ Nghệ không giống với cách muối cà ở những nơi khác. Đó là khi cà đã được hái, họ chọn ra những quả nhỏ trắng đem phơi cho héo. Khi quả cà đã rút bớt nước trở thành mềm, rửa sạch để ráo rắc thêm ít muối xóc lên cho thật đều. Sau đó trút tất cả vào vại sành, dội nước sôi để nguội còn hơi ẩm lên trên gần ngập, giã thêm ít tỏi rắc vào. Cuối cùng lấy một cái dĩa hay vỉ nan tròn úp lên trên lấy một hòn đá nặng đè lên sao cho cà không nổi khỏi mặt nước. Cứ để nguyên như vậy trong một tuần là đã có thể lấy dần ra ăn. Càng để lâu càng ngon nhưng để quá cà bị chua gắt không ăn được nên người ta đã cho thật nhiều muối cà sẽ mặn chát quả bẹp dí không còn tròn trĩnh như cà muối xổi nữa bởi đã thành cà nén như kiểu cà bát quả rất to và cách ăn cũng thay đổi tuy cũng họ nhà cà với nhau. Cà bát chỉ được muối nén ăn quanh năm trở thành kho thúc ăn dã chiến ăn dài ngày, dự trữ phòng mưa bão khan hiếm rau xanh. Hầu hết trong các gia đình nông dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ ngược lên các làng trung du kế cận giáp ranh miền xuôi, nhà nào cũng có một chum tương cũng với vại cà. Cà bát ngâm tương ăn cũng thấy ngon như là bữa cỗ. Chẳng thế mà có người nghiện cà. Xưa có một giai thoại khá lý thú về món cà muối. Thực vậy, cà muối không chỉ là một món ăn dân dã riêng người mình ưa thích mà cả Tây cũng phải mê. Người ta kể lại thời Pháp thuộc có một tên quan thực dân chắc là Rôbe Rôbớc gì đó nhưng dân mình gọi luôn nó là thằng Bớp. Hắn giữ chức Đồn trưởng đồn Can Lộc lấy vợ “An Nam” và chỉ thích ăn cơm ta, bỏ hắn cơm Tây. Vợ hắn đã luyện cho hắn tập ăn cả cà muối mỗi bữa đến nồi mắc nghiện cà Nghệ. Bữa nào không có cà muối là hắn mè nheo nhăn nhó bỏ không ăn cơm. Một lần đi hành hạt hắn sai lính vác bát vào làng xin cà. Có người thấy Tây biết ăn cà thì lấy làm lạ và có vẻ thương hại rồi mách bảo hắn thôi đừng ăn nữa vì vại cà nhà quê thường có dòi ăn độc. Hắn không nghe thản nhiên đáp lại: “Biết rồi không sao!”, chặc lưỡi nói thêm. “Có dòi là chuyện thường có gì lạ đâu?”. Mọi người cười ồ bỗng liên tưởng đến loại "Tây rau muống” không đủ tiền ăn thịt cá nên mới đòi ăn cà tới mức "nghiện" nặng như vậy.

Thế mới biết món ăn truyền thống dân tộc của người mình quả là có giá trị, nó lôi cuốn và thuyết phục mạnh mẽ bất cứ lớp người nào kể cả người nước ngoài bởi cà muối thuộc hàng khẩu vị siêu cấp từ lâu đời rồi. Những ai xa quê, đôi khi nhớ da diết một bữa canh cua đồng ăn với cà muối. Ấy là lúc tình yêu xứ Nghệ trỗi dậy khiến ta xao xuyến bồn chồn.
Continue Reading→

Discussion

Võ ngọc. Được tạo bởi Blogger.

Người đóng góp cho blog

Blogger templates. Proudly Powered by Blogger.